Banner Ngày 26/11/2022
 20/10/2022 Lượt xem: 32

1. Phương pháp xử lý nước nhanh hiệu quả hơn hàng triệu lần các phương pháp thương mại hiện có

Các nhà nghiên cứu tại trường Đại học Cardiff đã tạo ra một chất khử trùng nước ngay tại chỗ chỉ sử dụng hydro và không khí xung quanh, nhưng có khả năng diệt vi rút và vi khuẩn hiệu quả hơn hàng triệu lần so với các phương pháp thương mại truyền thống. Kết quả nghiên cứu là cuộc cách mạng công nghệ khử trùng nước và mang đến cơ hội chưa từng có để cung cấp nước sạch cho cộng đồng.

 

Phương pháp mới sử dụng chất xúc tác từ vàng và palađi khai thác hydro và oxy để tạo thành hydro peroxit, chất khử trùng phổ biến hiện đang được sản xuất ở quy mô công nghiệp. Mỗi năm, hơn bốn triệu tấn hydro peroxit được sản xuất trong các nhà máy và sau đó, được vận chuyển đến nơi sử dụng và lưu trữ. Nghĩa là các hóa chất ổn định thường được bổ sung vào các dung dịch trong quá trình sản xuất nhưng chúng làm giảm hiệu quả khi hydro peroxit đóng vai trò là chất khử trùng.

 

Cách tiếp cận phổ biến khác để khử trùng nước là bổ sung clo, nhưng clo có thể phản ứng với các hợp chất tự nhiên trong nước tạo thành những hợp chất, khi ở liều lượng cao, có thể gây độc cho con người. Khả năng tạo ra hydro peroxit tại thời điểm sử dụng sẽ khắc phục được các vấn đề về hiệu quả và an toàn của các phương pháp thương mại.

 

Trong nghiên cứu, các nhà khoa học đã kiểm tra hiệu quả khử trùng của hydro peroxit và clo thương mại so với phương pháp xúc tác mới. Mỗi phương pháp được thử nghiệm khả năng tiêu diệt Escherichia coli trong các điều kiện giống nhau, sau đó phân tích tiếp theo xác định các quy trình, qua đó, vi khuẩn bị tiêu diệt thông qua sử dụng từng phương pháp.

 

Nhóm nghiên cứu đã chứng minh khi chất xúc tác kết hợp hydro và oxy lại với nhau để tạo thành hydro peroxit, nó đồng thời tạo ra một số hợp chất có khả năng phản ứng cao, được gọi là các loại oxy phản ứng (ROS), mà nhóm nghiên cứu đã chứng minh là có tác dụng kháng khuẩn và kháng vi-rút, mà không phải chính hydro peroxit.

 

Phương pháp dựa vào chất xúc tác đã được chứng minh là có khả năng diệt khuẩn mạnh hơn 10.000.000 lần so với một lượng hydro peroxit công nghiệp tương đương và hiệu quả hơn 100.000.000 lần so với phương pháp khử trùng bằng clo, trong các điều kiện tương đương. Ngoài ra, phương pháp dựa vào chất xúc tác được chứng minh hiệu quả hơn trong việc tiêu diệt vi khuẩn và vi rút trong một khoảng thời gian ngắn hơn so với hai hợp chất còn lại.

 

Theo https://phys.org/news/2021-07-instant-method-millions-commercial-approach.html

 

2. Tế bào mầm của chuột và người dường như thiết lập lại tuổi sinh học của chúng

 

Một nhóm các nhà nghiên cứu tại Bệnh viện Brigham and Women's và Trường Đại học Y Harvard đã tìm thấy bằng chứng về việc các tế bào mầm (tế bào phôi) của chuột và người thiết lập lại tuổi sinh học của chúng. Trong bài báo của họ được xuất bản trên tạp chí Science Advances, nhóm nghiên cứu đã mô tả nghiên cứu của họ về quá trình lão hóa trong tế bào mầm và những gì họ phát hiện thấy trong lúc chúng làm như vậy.

 

Nguồn: CC0 Public Domain

 

Khi động vật lớn lên, tất cả các tế bào trong cơ thể chúng tự tái tạo lặp đi lặp lại. Khi quá trình này diễn ra liên tục, các lỗi trong quá trình tái tạo và các yếu tố bên ngoài khác (chẳng hạn như tiếp xúc với chất ô nhiễm) dẫn đến chất lượng tế bào bị phân hủy dần dần, tất cả đều là một phần của quá trình lão hóa tự nhiên. Trong nỗ lực mới này, các nhà nghiên cứu đã tìm thấy bằng chứng cho thấy các tế bào mầm có cơ chế thiết lập lại quá trình này, cho phép tập hợp tế bào con thiết lập lại đồng hồ lão hóa của chúng.

 

Tế bào gốc truyền vật chất di truyền từ bố mẹ sang con cái trong quá trình sinh sản. Trong nhiều năm, các nhà khoa học đã tự hỏi tại sao những tế bào này không thừa hưởng tuổi của cha mẹ chúng. Và trong nhiều năm, họ cho rằng các tế bào là không có tuổi, nhưng nghiên cứu gần đây đã chỉ ra rằng chúng thực sự có tuổi. Vì vậy, điều đó đặt ra câu hỏi làm thế nào con cái có thể bắt đầu cuộc sống của chúng với các tế bào tươi.

 

Để tìm ra nguyên nhân, các nhà nghiên cứu đã sử dụng đồng hồ phân tử để theo dõi quá trình lão hóa của phôi chuột. Những chiếc đồng hồ này được phát triển để đo những thay đổi biểu sinh trong tế bào. Các nhà nghiên cứu đã sử dụng chúng để liên tục so sánh tuổi sinh học của phôi (độ tuổi chúng xuất hiện dựa trên phản ứng với những thay đổi biểu sinh) với tuổi theo thứ tự thời gian của chúng. Họ phát hiện ra rằng tuổi của phôi chuột không đổi thông qua quá trình phân chia tế bào ban đầu sau khi trứng được thụ tinh. Nhưng sau đó khoảng một tuần, sau khi phôi đã tự bám vào tử cung, tuổi sinh học của phôi giảm xuống. Phát hiện này cho thấy một cơ chế nào đó đã đặt lại tuổi sinh học của phôi thai trở về 0.

 

Sau đó, nhóm nghiên cứu chuyển sự chú ý sang phôi người. Họ không thể theo dõi sự lão hóa ở phôi người do các quy tắc đạo đức cấm nghiên cứu thực hiện như vậy, nhưng họ đã tìm thấy bằng chứng cho thấy phôi người cũng đặt lại đồng hồ của chúng. Họ dự định tiếp tục tìm kiếm cơ chế đằng sau quá trình đặt lại này.

 

Theo https://medicalxpress.com/news/2021-06-mouse-human-germline-cells-reset.html

 

3. Phân lập được các biến thể gen liên quan đến việc kiểm soát trọng lượng cơ thể

 

Một nhóm lớn các nhà nghiên cứu liên kết với nhiều tổ chức trên khắp Hoa Kỳ và một số quốc gia khác, hợp tác nghiên cứu với Trung tâm Di truyền Regeneron, đã phân lập được một số biến thể gen giữ vai trò trong việc kiểm soát trọng lượng cơ thể. Trong bài báo của họ được xuất bản trên tạp chí Science, nhóm nghiên cứu đã mô tả cách họ phân lập các biến thể này và thảo luận về khả năng phát triển các liệu pháp điều trị liên quan cho bệnh béo phì. Giles Yeo và Stephen O'Rahilly, thuộc Phòng thí nghiệm Nghiên cứu Trao đổi chất của Trường Đại học Cambridge, đã công bố một phần quan điểm trong cùng một số tạp chí phác thảo công việc của nhóm.

 

Nguồn: CC0 Public Domain

 

Nghiên cứu trước đây đã chỉ ra rằng béo phì phức tạp hơn so với thoạt nhìn. Trong khi việc tăng cân gắn liền với ăn quá nhiều, ăn sai loại thực phẩm và thiếu tập thể dục, thì nó cũng rõ ràng là nguyên nhân đẫn đến một số người sẽ có nhiều nguy cơ hơn những người khác. Trong nỗ lực mới này, các nhà nghiên cứu đã tìm kiếm sự khác biệt về gen giữa những người có thể dẫn đến sự khác biệt trong việc tăng cân.

 

Nguồn gen của con người có khoảng 3 tỷ cặp cơ sở và nghiên cứu trước đây đã chỉ ra rằng hầu hết chúng đều giống hệt nhau giữa từng người - chỉ vài triệu biến thể là nguyên nhân dẫn đến sự khác biệt giữa mọi người. Và trong số đó, nhiều loại không mã hóa, có nghĩa là chúng không có “các chỉ dẫn” để nói cho tế bào biết sản xuât loại protein nào. Các nhà nghiên cứu chỉ tập trung vào những thứ đang mã hóa (những thứ tạo nên exome), bởi vì chúng là những thứ duy nhất có thể có tác động đến việc kiểm soát cân nặng. Để tìm ra sự khác biệt trong exome, họ đã tiến hành phân tích gen trên các mẫu mô của 645.626 người từ Hoa Kỳ, Anh và Mexico, và tìm thấy 16 biến thể mà họ tin rằng có liên quan đến việc duy trì cân nặng.

 

Sau đó, nhóm nghiên cứu đã xác định một trong các biến thể ở chuột thử nghiệm và so sánh chúng với chuột không có biến thể đó. Bằng cách cho chúng ăn một chế độ ăn nhiều chất béo giống hệt nhau, họ phát hiện ra rằng những con chuột bị biến thể này có xu hướng tăng cân nhiều hơn.

 

Các phát hiện của các nhà nghiên cứu vẫn còn ở giai đoạn sơ bộ nhưng họ gợi ý về khả năng phát triển các liệu pháp khắc phục sự kiểm soát sản xuất protein do các biến thể di truyền liên quan đến tăng cân.

 

Theo https://medicalxpress.com/news/2021-07-gene-variants-body-weight-isolated.html

 

4. Kỹ thuật mới chẩn đoán nhanh cỏ dại kháng thuốc trừ cỏ

 

Khi số lượng quần thể cỏ dại kháng nhiều loại thuốc trừ cỏ tiếp tục tăng cao, thì rõ ràng cần có các công cụ tốt hơn để giúp người nông dân chẩn đoán nhanh các vấn đề kháng thuốc. Với việc tiếp cận thông tin kịp thời hơn, họ có thể chủ động thực hiện sớm hơn các biện pháp ngăn ngừa sự lây lan của cỏ dại kháng thuốc. 

 

Một bài báo gần đây trên tạp chí Weed Science mô tả một thử nghiệm mới, nhanh gọi là "thử nghiệm đĩa lá", thử nghiệm sử dụng phát xạ huỳnh quang diệp lục để xác định xem cỏ dại có khả năng kháng lại nhiều loại thuốc trừ cỏ nội hấp và tiếp xúc hay không. Trái ngược với việc sàng lọc trong nhà kính và các nghiên cứu quần thể tốn nhiều thời gian và công sức, xét nghiệm đĩa lá có thể cho ra kết quả trong khoảng 48 giờ. 

 

Trong một nghiên cứu gần đây, các nhà khoa học đã có thể sử dụng kỹ thuật huỳnh quang để phát hiện nhanh tính kháng thuốc trừ cỏ glyphosate, dicamba và fomesafen của các loài cỏ dại lá rộng và cỏ hoà thảo, bao gồm cả cây dền gai, cỏ waterhemp,  cỏ kochia và cỏ ngỗng. 

 

Thử nghiệm đã tách biệt rõ ràng các quần thể mẫn cảm với thuốc diệt cỏ và những quần thể có tính kháng thuốc cao. Tuy nhiên, với các quần thể cỏ dại có tính kháng thấp hơn thì việc xác định bằng thử nghiệm này lại kém chính xác hơn. 

 

Mặc dù cần phải nghiên cứu thêm để tinh chỉnh thử nghiệm mới này nhằm có độ chính xác cao, nhưng nó có nhiều hứa hẹn.

 

Chenxi Wu, nhà nghiên cứu khoa học tại Bayer CropScience cho biết: “Ngoài tốc độ, phương pháp thử nghiệm đĩa lá không đòi hỏi nhiều về kỹ năng kỹ thuật. Điều đó có nghĩa là nhiều phòng thí nghiệm khoa học về cỏ dại hơn có thể sử dụng kỹ thuật này để xác định tính kháng nhiều loại thuốc trừ cỏ của cỏ dại một cách hiệu quả — giúp người nông dân thực hiện các hành động nhanh chóng và có hiểu biết hơn". 

 

Theo Phys.org

 

 

 

 

  • slideshow_large
  • slideshow_large
  • slideshow_large
  • slideshow_large
Truy cập hôm nay : 6
Truy cập trong 7 ngày :33
Tổng lượt truy cập : 884